Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

Lý Thái Tổ - Lý Công Uẩn - Anh Hùng dân tộc

Lý Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lý Thái Tổ
Thần Vũ Hoàng đế
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Tượng Lý Thái Tổ ở Hà Nội, Xuân Kỷ Sửu
Tượng Lý Thái Tổ ở Hà Nội, Xuân Kỷ Sửu
Hoàng đế nhà Lý
Trị vì 10091028
Tiền nhiệm Nhà Tiền Lê
Kế nhiệm Lý Thái Tông

Vợ 9 hoàng hậu (Lập Giáo, Tá Quốc, Lập Nguyên,...)
Tên thật
Lý Công Uẩn
Niên hiệu
Thuận Thiên: 1010 - 1028
Thụy hiệu Thần Vũ Hoàng Đế
Miếu hiệu Thái Tổ
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Hiển Khánh Vương
Thân mẫu Minh Đức thái hậu Phạm thị
Sinh 974
Từ Sơn, Bắc Ninh
Mất 1028
An táng Thọ Lăng
Tôn giáo Phật giáo
Lý Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖; tên húyLý Công Uẩn 李公蘊; 9741028) là vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Hậu Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời năm 1028. Dưới triều nhà Tiền Lê, ông làm quan đến chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, là một chức quan võ chỉ huy quân đội bảo vệ kinh đô Hoa Lư bấy giờ. Ông được lực lượng của Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh tôn làm vua sau khi vua Lê Long Đĩnh qua đời. Dưới triều ông, triều đình trung ương được củng cố,[1] các thế lực phiến quân bị đánh dẹp, kinh đô được dời từ Hoa Lư về thành Đại La vào tháng 7 năm Thuận Thiên thứ hai (1010), và thành này được đổi tên thành Thăng Long.

Mục lục


Thân thế

Lý Công Uẩn sinh năm 974, là người ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay ở xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có đền thờ) .[2] Mẹ là Phạm Thị. Khi lên ba tuổi, mẹ ông đem ông cho sư Lý Khánh Văn, trụ trì chùa Cổ Pháp làm con nuôi và được đặt tên là Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn đi tu từ đó. Lớn lên, với sự bảo hộ của sư Vạn Hạnh - anh trai sư Lý Khánh Văn, ông vào kinh đô Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê, thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Theo Đại việt sử ký toàn thư, ông là người khoan thứ nhân từ, có lượng đế vương. Các sử gia ghi chép không thống nhất về nguồn gốc và thân thế của ông[3][4][5]. Ông đã được sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ khen như sau: [6]
Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ.
Sư Vạn Hạnh

Thời Tiền Lê

Lý Công Uẩn lớn lên thời Lê Đại Hành, ông theo giúp hoàng tử Lê Long Việt.
Năm 1005, Lê Đại Hành mất, các con tranh giành ngôi vua. Năm 1006, Lê Long Việt giành được ngôi báu, trở thành vua Lê Trung Tông. Nhưng chỉ được 3 ngày Trung Tông bị em là Lê Long Đĩnh giết hại giành ngôi. Lúc đó các quan đều sợ hãi bỏ chạy, chỉ có Lý Công Uẩn đến ôm xác Trung Tông khóc.
Lê Long Đĩnh không những không trị tội mà khen Lý Công Uẩn là người trung nghĩa, tiếp tục trọng dụng ông vào chức cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, rồi sau đó thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.

Lên ngôi

Năm 1009, khi vua Lê Long Đĩnh qua đời, ông 35 tuổi. Lực lượng của quan Chi nội là Đào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh đã tôn ông lên ngôi hoàng đế. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép Lê Long Đĩnh mất ở trong cung, Đại Việt sử lược cũng chỉ chép Đến năm thứ 2 niên hiệu Cảnh Trị (năm Kỷ Dậu- 1009- ND). Ngọa Triều Mất, con nối ngôi thì còn nhỏ.[7] Tuy vậy, Đại Việt sử ký tiền biên trang 185 lại khẳng định Lý Công Uẩn giết Lê Long Đĩnh để đoạt ngôi và truy đặt thụy hiệu xấu (Ngọa Triều):
Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử không được chép.
Đại Việt sử ký tiền biên
Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng chép thái độ của Lý Công Uẩn sau khi nghe Vạn Hạnh khuyên giành lấy ngai vàng:
Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ đấy cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lòng ngấp nghé ngôi vua
Đại Việt Sử ký Toàn thư[8].
Tượng đài Lý Thái Tổ tại trung thành phố Bắc Ninh
Đại Việt sử lược có ghi chép: [7]
Trong làng vua có cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn, trong đó có những câu:
Phiên âm:
Thụ căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành...
Tạm dịch:
Gốc rễ thăm thẳm
Vỏ cây xanh xanh
Lúa dao cây rụng
Mười tám hạt thành...
Theo phép chiết tự chữ Hán, mấy câu này ẩn ý nhà Lê sẽ mất (cây rụng) và nhà Lý (thập + bát + tử thành chữ ) sẽ nổi lên. Sư Vạn Hạnh bèn nói với Lý Công Uẩn rằng: "Gần đây tôi thấy bài sấm văn lạ, biết nhà Lê đương mất mà nhà Lý đương lên. Họ Lý lại không có ai khoan hòa, nhơn hậu và trung thứ như ông, nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã hơn 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận". Lý Công Uẩn sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn ở Ba Sơn".
Còn Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên, Quyển I thì nêu ra lời phê về sấm truyền họ Lý sẽ làm vua:
Bờ cõi Bắc Nam tuy có khác, nhưng vận hội vẫn như nhau: nhà Lê thì có chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống chuyện với bên Tống thế! Hay là người làm sử thấy thế, gò ép gán gẩm vào với nhau để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu?
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục[9].
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên (nghĩa là “theo ý trời”). Ông phong cha là Hiển Khánh Vương, mẹ là Minh Đức Thái Hậu, chú là Vũ Đạo Vương, anh ruột là Vũ Uy Vương, em ruột là Dực Thánh Vương. Ông lập sáu vương hậu, con trưởng ông là Lý Phật Mã được phong Thái Tử. Đồng thời, con gái lớn của ông là An Quốc công chúa được gả cho Đào Cam Mộc, Đào Cam Mộc cũng được phong Nghĩa Tín Hầu. [7]

Trị vì

Dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long

Cố đô Hoa Lư, nơi núi non hiểm trở
Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư, cố đô của Đại Cồ Việt chật hẹp không có thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, bèn định dời đô về thành Đại La (hay La Thành), ngày nay là Hà Nội. Quyết định rời bỏ hẳn một kinh đô từ vùng núi non hiểm trở ra vùng đồng bằng có thể cho thấy bản lĩnh và tầm nhìn của vị hoàng đế khai sáng ra triều Lý và thủ đô Hà Nội của Việt Nam. Trong Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu), Lý Thái Tổ khẳng định làm thế không phải theo ý riêng như các cựu triều ĐinhTiền Lê, mà để mưu việc lớn, thấy thuận tiện thì thay đổi[10]. Cũng trong Chiếu dời đô, ông còn viết Thăng Long là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận: [6]
Bề tôi đều nói: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo". Vua cả mừng.
Tháng 7 năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) thì khởi sự dời đô. Khi ra đến La Thành, ông lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành sang Thăng Long thành, và cải Hoa Lư làm Trường An phủCổ Pháp làm Thiên Đức phủ.

Tôn giáo

Tượng thờ vua Lý Thái Tổ ở chùa Kiến Sơ, Gia Lâm, Hà Nội
Triều Lý bấy giờ sùng đạo Phật, nên những người đi tu, lấy tiền kho ra để xây chùa, đúc chuông được nhà vua trọng đãi. Tháng 6 năm Thuận Thiên thứ 9 (Mậu Ngọ 1018),[7] Lý Thái Tổ sai quan là Nguyễn Đạo ThanhPhạm Hạc sang nhà Tống (Trung Quốc) thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. [11]

Chính trị

Lúc bấy giờ nhà Tống của Trung Quốc bận nhiều việc nên không sinh sự lôi thôi gì với Đại Cồ Việt. Bởi vậy khi Lý Thái Tổ lên ngôi, sai sứ sang cầu phong, hoàng đế nhà Tống cho làm Giao Chỉ quận vương, sau lại gia phong làm Nam Bình vương vào năm 1017 (thời Tống Chân Tông). Các vương quốc láng giềng như Chiêm ThànhChân Lạp đều sang triều cống, cho nên việc bang giao thời bấy giờ được yên trị. Năm Thuận Thiên thứ 11 (Canh Thân 1020), ông lệnh cho con đem quân đi đánh Chiêm Thành, và giành chiến thắng. [7]
Vua Thái Tổ lưu tâm về việc sửa sang trong nước: đổi phép cũ của nhà Tiền Lê; chia nước ra làm 24 lộ, gọi Hoan ChâuÁi Châu là trại. Năm 1013, lại định ra 6 hạng thuế là: thuế ruộng, đầm, ao; thuế đất trồng dâu và bãi phù sa; thuế sản vật ở núi; thuế mắm muối đi quan Ải quan; thuế sừng tê giác, ngà voi và hương ở trên mạn núi xuống; thuế tre gỗ hoa quả. Ông cho những bậc công chúa coi việc trưng thu các thứ thuế ấy.
Lý Thái Tổ còn thực hiện chính sách "thân dân". Dưới triều ông, có nhiều lần nhân dân được xá thuế, chẳng hạn như tô thuế được xá 3 năm vào năm 1016. Đến năm 1017, tô ruộng cũng được xá. [1]

Đánh dẹp

Ở trong nước cũng có đôi ba nơi nổi lên làm loạn, như ở Diễn Châu (thuộc Nghệ An) và ở mạn thượng du hay có sự phản nghịch, nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp mới yên được. Thời bấy giờ các hoàng tử đều phong tước vương và phải cầm quân ra chiến trường, bởi vậy ai cũng giỏi nghề dùng binh.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tháng hai năm Tân Hợi 1011, tức là năm Thuận Thiên thứ hai, vua Lý Thái Tổ mang sáu quân đi phạt quân Cử Long ở Ái Châu. Quân Cử Long thất bại, bộ lạc bị đốt và người cầm đầu bị bắt và giải về.
Tháng 10 năm Thuận Thiên thứ 4 (Quý Sửu 1013), vua Thái Tổ thân chinh đánh quân Man ở châu Vị Long, quân ông giành chiến thắng.
Có lần ông đem quân đi đánh Diễn Châu. Khi ông về tới Vũng Biện, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội. Thấy vậy, ông đốt hương và khấn trời:
"Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét".
Sau khi ông khấn, gió sấm không còn dữ dội nữa và trở nên yên lặng. [6]
Năm Thuận Thiên thứ 5 (Giáp Dần 1014), được lệnh của Lý Thái Tổ, Dực Thánh Vương đánh dẹp quân Man. Theo Đại Việt Sử Lược, ở Lộ Kim Hoa, quân của Dự Thánh Vương đánh bại tướng Man là Đỗ Trương Huệ, chém vạn đầu giặc, bắt được quân sĩ và ngựa nhiều vô số. Ly Châu dâng con Kỳ Lân. Đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh. Chân Lạp sang cống. [7]
Năm Thuận Thiên thứ 13 (Nhâm Tuất 1022), ông ra lệnh cho Dực Thánh Vương đánh dẹp Đại Nguyên Lịch.
Năm Thuận Thiên thứ 15 (Giáp Tý 1024), Thái tử được lệnh ra quân đánh châu Phong Luân, còn Khai Quốc Vương thì đánh Châu Đô Kim. Thành Thăng Long được xây.
Năm Thuận Thiên thứ 18 (Mậu Thìn 1028), Thái tử lại được lệnh đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh Vương cũng đi đánh Châu Văn. [7]

Qua đời

Theo Đại Việt sử lược, năm Mậu Thìn 1028 (tức năm Thuận Thiên thứ 19), sức khỏe nhà vua không được tốt. Ông qua đời ở điện Long An[7] vào ngày Mậu Tuất. Ông ở ngôi 19 năm, hưởng thọ 55 tuổi. Ông được táng ở Thọ Lăng, Thiên Đức phủ, miếu hiệuThái Tổ, thụy hiệuThần Vũ Hoàng đế.
Khi Lý Thái Tổ vừa qua đời, việc tế táng lại chưa hoàn tất, thì ba hoàng tử Võ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương cùng quân sĩ vây hãm thành, nhằm mục đích cướp ngôi Thái Tử.[11] Được sự giúp đỡ của Lê Phụng Hiểu, [12] Thái tử Lý Phật Mã lên nối ngôi, tức là vua Lý Thái Tông - vị vua thứ hai của nhà Lý.

Gia quyến

  • Cha: không rõ (được truy tôn là Hiển Khánh vương)
  • Mẹ: Phạm thị (được truy tôn là Minh Đức thái hậu)
  • Anh em trai:
    • Vũ Uy vương (anh, không rõ tên)
    • Dực Thánh vương (em, không rõ tên)
  • Vợ: 9 hoàng hậu, trong đó có một số người được sử ghi danh hiệu hoặc họ:
    • Tá Quốc
    • Lập Nguyên
    • Lập Giáo
    • Lê Thị (không rõ danh hiệu, mẹ của thái tử Phật Mã) [13]
  • Con trai:
    • Lý Phật Mã (1000-1054)
    • Đông Chinh vương Lý Lực
    • Vũ Đức vương (không rõ tên, ? - 1028)
    • Khai Quốc vương Lý Bồ
  • Con gái: 13 người, chỉ có 1 người được sử ghi danh hiệu:

Nhận định

Tượng Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở đền Lý Bát Đế
Các sử gia phong kiến Việt Nam theo quan điểm Nho giáo có chê trách ông ở mặt quá sùng tín vào đạo Phật, chê trách cơ cấu tổ chức của triều đình ông không phù hợp với quan niệm của họ.
Sử gia Lê Văn Hưu phê bình trong Đại Việt sử ký:
Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?
sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt sử ký toàn thư.[14]
Cũng trong Đại Việt Sử ký, Lê Văn Hưu so sánh:
Có người hỏi: Lê Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên nói theo họ Lý.
sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt Sử ký Toàn thư,[8]
Sử thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử ký Toàn thư bình rằng:
Lý Thái Tổ dấy lên, trời mở điềm lành hiện ra ở vết cây sét đánh. Có đức tất có ngôi, bởi lòng người theo về, lại vừa sau lúc Ngọa Triều hoang dâm bạo ngược mà vua thì vốn có tiếng khoan nhân, trời thường tìm chủ cho dân, dân theo về người có đức, nếu bỏ vua thì còn biết theo ai! Xem việc vua nhận mệnh sâu sắc lặng lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời, cùng là đánh dẹp phản loạn, Nam Bắc thông hiếu, thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có mưu lược của bậc đế vương. Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư[14].
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chính biên quyển thứ 2 nhận định:
Nhà Lý được nước, cũng không phải chính nghĩa cho lắm, nhưng đương buổi Lê Ngoạ Triều, lòng người lìa tan, sinh dân vô chủ, không về với Công Uẩn còn biết theo ai?
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục [9].

Vinh danh

Lý Thái Tổ và các vị vua nhà Hậu Lý được thờ ở đền Đô tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay, có một ngôi đền thờ riêng ông được xây dựng từ vốn các công trình 1000 năm Thăng Long do Hà Nội kết hợp với Ninh BìnhĐền Vua Lý Thái Tổ đặt tại trung tâm khu di tích Cố đô Hoa Lư.
Nhiều địa phương lấy tên ông đặt cho một số đường phố: phố Lý Thái Tổ ở Hà Nội, phố Lý Công Uẩn ở Hải Dương… Tại Hà Nội và Bắc Ninh đều có dựng tượng đài ông.
Tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và nhiều đơn vị đã lên kế hoạch làm phim về Lý Công Uẩn với quy mô lớn như các bộ phim Chiếu dời đô, Đường tới thành Thăng Long, người con của rồng,...

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

PHONG THỦY VÀ NGUYÊN NHÂN TAI NẠN TẠI NEW YORK VÀ WASHINGTON

PHONG-THỦY VÀ NGUYÊN NHÂN VỤ TAI BIẾN NGÀY 11-9 TẠI NEW-YORK VÀ WASHINGTON
  LÂM QUỐC THANH
Vào sáng ngày 11 tháng 9 vừa qua, một nhóm khủng bố thuộc tổ chức của tên trùm khủng bố quốc tế Osama bin Laden cùng một lúc không tặc 4 chiếc máy bay dân sự Hoa- kỳ. Sau khi đoạt được quyền điều khiển từ tay phi công, chúng liền cho 2 chiếc máy bay đâm thẳng vào 2 tòa nhà chọc trời World Trade Center ở New-York, phá hủy hoàn toàn 2 tòa nhà này, làm hơn 5,000 người bị chết và hàng ngàn người khác bị thương. Cùng lúc đó, chúng phóng chiếc máy bay thứ ba vào Ngũ giác đài, phá sập 1 góc của tòa nhà kiên cố này, đồng thời làm thiệt mạng gần 200 viên chức đang làm việc cho Bộ Quốc Phòng Mỹ. Còn chiếc máy bay thứ 4 thì có lẽ chúng dự tính đâm vào tòa Bạch-Ốc hoặc Camp David (nơi nghỉ mát của Tổng Thống Bush), nhưng do phản ứng quyết liệt của những hành khách, chiếc máy bay này lao xuống và nổ tan tành trong 1 cánh đồng trống ở Pennsylvania.
Vì sao Washington, và nhất là New York lại gặp phải tai họa thảm khốc như vậỵ Sau ngày11-9, Bộ Tư Pháp Hoa-Kỳ cũng như Cơ Quan Tình Báo Liên Bang F.B.I.đã đưa ra nhiều câu trả lời. Ở đây, người viết không muốn lập lại những câu trả lời đó mà muốn dựa vào bộ môn Phong-Thủy- là 1 môn khoa học huyền bí Ðông phương - để tìm hiểu những nguyên nhân "huyền bí" nào đãẫn đến thảm họa cho 2 thành phố này. Ðể rồi từ đo hìn vào vận khí của thành phố Chicago- từ hiện tại dến tương lai- hầu tìm kiếm 1 môi trường an toàn và thích hợp cho mọi người chúng ta, nhất là trong giai đoạn xáo trộn và bất ổn như hiện nay.
Nhưng trước khi đi sâu vào chi tiết, và cũng đễ bạn đọc có thể nắm vững được vấn đề, người viết xin được lược qua 1 số nguyên tắc Phong-Thủy cơ bản dưới đây:
1/ LẠC THƯ VÀ TAM NGUYÊN, CỬU VẬN:
a/ Lạc Thư: theo truyền thuyết Trung-Hoa thì vua Vũ nhà Hạ là người đã tìm ra Lạc Thư. Ðây là 1 đồ bàn hình vuông, bên trong có 9 số ( còn được gọi là Cửu tinh ), với mỗi số được ấn định bản chất ngũ hành và phương hướng như sau:
6
1
8
7
5
3
2
9
4
-Số 1: nằm ở phía Bắc, thuộc hành Thủy.
-Số 2: ở phía Tây-nam, thuộc hành Thổ.
-Số 3: ở phía Ðông, thuộc hành Mộc
-Số 4: ở phía Ðông-nam, cũng thuộc Mộc.-Số 5: nằm ở trung tâm, thuộc hành Thổ
-Số 6: ở phía Tây-bắc thuộc hành Kim.
-Số 7: nằm ở phía Tây, cũng thuộc Kim
-Số 8: ở phía Ðông- bắc, thuộc hành Thổ.
-Số 9: nằm ở phía Nam, thuộc hành Hỏa.
Phần trên là những điều cơ bản về về Lạc Thư. Dựa vào nó, các nhà Phong-thủy sau này mới nghĩ ra những cách xoay chuyển thuận, nghịch để luận đoán vận khí thịnh, suy từ mồ mả, nhà đất, cho đến xóm làng, thành phố; thậm chí đến sự hưng vượng hoặc suy vong của một quốc gia cũng đều phải dựa vào đại khí của Lạc Thư mới có thể nhận biết chính xác được.
b/Tam Nguyên, Cửu Vận: cách đây gần 5,000 năm trước, người Trung- Hoa
đã bắt đầu sử dụng Lục Thập Hoa Giáp để tính lịch. Mỗi Lục Thập Hoa Giáp gồm có
60 năm, còn được gọi là 1 Nguyên hay một kỷ. Tam Nguyên là 1 chu kỳ 180 năm, gồm có 3 Nguyên : Thượng Nguyên là 60 năm đầu ; Trung Nguyên là 60 năm giữa ; và Hạ Nguyên là 60 năm cuối. Mỗi Nguyên lại được chia làm 3 Vận; mỗi Vận là 1 giai đoạn dài 20 năm. Như vậy, một chu kỳ 180 năm sẽ gồm có 3 Nguyên và 9 Vận nên còn được gọi là Tam Nguyên, Cửu Vận. Ðối với Phong-thủy học, đây là chu kỳ biến hóa tự- nhiên của vũ trụ, được lập đi, lập lại không ngừng.
Ngoài ra, để luận định chính xác khí số của từng Vận, các nhà Phong-thủy Trung-hoa còn xử-dụng Cửu tinh (9 số) của Lạc Thư để quản thủ Cửu Vận trong Tam Nguyên, tức là ba số 1,2, 3uản thủ 3 Vận đầu của Thượng Nguyên ; ba số 4, 5, 6 quản thủ 3 Vận giữa của Trung Nguyên ; và ba số 7,8, 9 quản thủ 3 Vận cuối của Hạ Nguyên. Bởi vậy, nếu chúng ta nhìn vào Tam Nguyên, Cửu Vận gần đây nhất thì sẽ thấy như sau:
  THƯỢNG NGUYÊN:
- Vận 1: từ năm 1864 đến năm 1883: do số 1 quản thủ
- Vận 2: từ năm 1884 đến năm 1903: do số 2 quản thủ
- Vận 3: từ năm 1904 đến năm 1923: do số 3 quản thủ
TRUNG NGUYÊN:
- Vận 4: từ năm 1924 đến năm 1943: do số 4 quản thủ
-Vận 5: từ năm 1944 đến năm 1963: do số 5 quản thủ
- Vận 6: từ năm 1964 đến năm 1983: do số 6 quản thủ
HẠ NGUYÊN:
- Vận 7: từ năm 1984 đến năm 2003: do số 7 quản thủ
- Vận 8: từ năm 2004 đến năm 2023: do số 8 quản thủ
- Vận 9: từ năm 2024 đến năm 2043: do số 9 quản thủ
Nhìn vào phần trên, chúng ta có thể thấy con người hiện tại đang sống trong những năm cuối cùng của Vận 7 Hạ Nguyên . Trong Vận này, số 7 là sao quản thủ.
(Phần giải thích thêm)
Muốn xác định năm khởi điểm của Nguyên ta phải tìm năm Giáp Tý. Năm 1864 là năm Giáp Tý hay là năm bắt đầu của Thượng Nguyên. Như ta đã biết, một Nguyên là giai đoạn của một Lục Thập Hoa Giáp, còn gọi là một kỷ, có 60 năm, bắt đầu từ năm Giáp Tý đến năm Quý Hợi. Do đó tất cả mọi nguyên trong Tam Nguyên Cửu Vận đều bắt đầu từ năm Giáp Tý. Người Trung Hoa bắt đầu làm lịch đã lấy Năm Giáp Tý đầu tiên từ thời Phục Hy. Nếu tính từ đó cho đến năm 1863 thì được tất cả là 78 Nguyên ( hay 78 Hoa Giáp), tức là 26 Tam Nguyên, Cửu Vận. Bởi vậy năm 1864 là năm bắt đầu của Tam Nguyên, Cửu Vận thứ 27.
Dựa vào Lạc Thư, ta thấy số 7 thuộc về phía Tây, nên phía Tây được coi là phương vị của Chính Thần trong Vận 7. Ðối với Phong- thủy, phương vị của Chính Thần không bao giờ được có Thủy, nghĩa là ở phía Tây của mỗi làng mạc, đô thị, thành phố hoặc thủ đô đều không nên có ao hồ, sông ngòi hay biển cả. Nếu có tức là phạm phải cách "Phản, phục Ngâm" hay " Linh Thần Thủy", tức là bị ác, sát khí chiếu tới, nên những thành phố đó sẽ gặp phải nhiều biến động hoặc tai họa. Ngược lại, ở phía đối diện với phương vị của Chính Thần (tức phía Ðông, vì Chính Thần trong Vận 7 tọa lạc tại phía Tây) mà có Thủy tức là Chính Thủy, nghĩa là được vượng khí chiếu tới. Cho nên trong Vận 7, những thành phố ma ó Thủy ở phía Ðông sẽ tự nhiên trở nên phồn thịnh, sung túc, chẳng những thế lại còn tránh được nhiều hiểm họa lớn.
2/ SỰ LUÂN CHUYỂN CỦA CỬU TINH VÀ NGŨ HOÀNG SÁT:
a/ Sự luân chuyển của Cửu tinh : Cửu tinh tức là 9 sao ( hay 9 số) trong Lạc Thư. Từ ị trí nguyên thủy của các số trong đồ hình, các nhà phong-thủy còn tìm cách xoay chuyển Cửu tinh theo một quy luật nhất định để tìm hướng tốt cho phần mộ, nhà đất., ngoài ra còn để tiên đoán mọi diễn biến tốt, xấu trong từng năm, tháng, ngày, giờ.Ở đây, vì phạm vi hạn hẹp của bài báo, người viết chỉ xin được nói sơ qua sự luân chuyển Cửu tinh theo từng năm, từ năm 2001 đến năm 2003, tức 3 năm cuối cùng của Vận 7 , như sau:
  B                                              B                                          B
9
4
2

8
3
1

8
3
1
1
8
6

9
7
5

9
7
5
5
3
7

4
2
6

4
2
6
              Năm 2001                          Năm 2002                   Năm 2003
Nhìn vảo đồ hình của năm 2001, ta thấy số 4 nằm ở phía Bắc, nên số 3 sẽ nằn ở phía Nam. Số 1 ở phía Tây, số 6 phía Ðông, số 9 phía Tây-Bắc, số 5 phía Tây-Nam, số 2 phía Ðông-Bắc, số 7 phía Ðông-Nam, còn số 8 thì ở chính giữa (Trung Cung). Các năm 2002, 2003 cũng tương tự. Chẳng hạn như năm 2002 thì số 3 ở phía Bắc, số 2 phía Nam, số 9 phía Tây.... cứ như thế bạn đọc có thể nhận ra phương hướng của mỗi sao nằm ở khu vực nào ùy theo năm. Ngoài ra, vì Lạc Thư chỉ có 9 số, nên sau 9 năm luân chuyển, các sao sẽ trở lại vị trí ban đầu của nó.
b/Ngũ Hoàng Sát: trong Cửu tinh, những sao thường đem đến sự tốt đẹp, may mắn là 1, 4, 6, 8 ( mặc dù còn phải kết hợp với cả các sao tháng, ngày, giờ nữa mới có thể kết luận được chính xác). Các sao 3, 9 thì phải tùy trường hợp để luận đoán tốt, xấu, còn các sao 2, 5, 7 đều là những sao xấu: số 2 chủ về bị bệnh tật quấy nhiễu; số 7 chủ về thị phi, trộm cắp. Riêng trong Vận 7, số 7 đương nắm quyền, nên những tính chất hung, hiểm của nó chưa bộc lộ ra. Còn số 5 là sát tinh số một trong Cửu tinh, nên còn được gọi là Ngũ Hoàng Sát. Thông thường, khi Ngũ Hoàng chiếu đến khu vực nào thì khu vực đó sẽ xảy ra nhiều biến động: nhẹ thì ốm đau, dịch bệnh, nặng thì tai họa chết người. Nhưng thế nào là mức độ nặng, nhẹ  Nặng là khi nơi Ngũ Hoàng chiếu tới hằng ngày còn có đông người qua lại, hoặc xe cộ, máy móc hoạt động không ngừng; hoặc là nơi đó có những luồng thủy lưu giao hội ( còn gọi là Thủy Tam Thoa, sẽ nói rõ ở phần sau) Nhẹ là khi nơi có Ngũ Hoàng chiếu tới lại vắng vẻ, không có người hoặc xe cộ qua lại, hoạt động hay mức độ hoạt động tương đối ít.
Trên đây là những điều cơ bản về Phong thủy, mà ngưởi viết hy vọng bạn đọc sẽ nắm vững trước khi chúng ta có thể bước vào tìm hiểu địa thế và vận khí của 3 thành phố New-York, Washington và Chicago trong vận 7 Hạ nguyên này.

3/ NEW-YORK, WASHINGTON VÀ CHICAGO:
http://www.vietnam-on-line.com/hph/Lamquocthanh/WManhattan.gif
I. New-York: là thành phố nằm trên phần cuối cùng của bán đảo Manhattan. Ðây là một bán đảo lớn, xuất phát từ tận miền Ðông-Bắc Hoa-Kỳ, rồi đi qua các Tiểu bang Main, Vermont, New Hampshire, Massachusetts và Connecticut. Khi đến New-York, bán đảo Manhattan đột nhiên thót lại như một ngón tay hay một lưỡi kiếm đâm
thẳng về phía Tây-Nam, với khí thế trông thật mãnh liệt, và chỉ chấm dứt khi bị dòng sông Hudson cản lại. Ðây là khu vực trung tâm của thành phố New-York, với 2 tòa nhà chọc trời " World Trade Center" nằm gần ở khu vực cuối cùng của bán đảo, tức là khu vực phía Tây-Nam của thành phố. Dòng sông Hudson bắt nguồn từ phái Bắc chảy xuống, đi dọc theo khu vực phía Tây của thành phố rồi đổ ra biển. Trong Vận 7,khu vực phía Tây mà có Thủy tức là bị sát khí của " Linh Thần Thủy" nên trong suốt mười mấy năm qua, New-York đã gặp rất nhiều tai biến, nhất là những năm mà niên tinh Ngũ Hoàng (số 5) chiếu tới phía Nam ( năm 1999), phía Bắc ( năm 2000), phía Tây ( năm 1997), và Tây-Nam (2001). Sở dĩ như thế là vì những khu vực này đều có Thủy của dòng sông Hudson , tức là đã có sẵn động khí, nên khi Ngũ Hoàng tới những phương đó là lập tức gây ra tai họa liền. Nhất là năm nay (2001), khi Ngũ Hoàng chiếu tới phía Tây-Nam. Khu vực này của thành phố New-York là nơi giao hội giữa cửa sông Hudson và 2 eo biển gần đó tạo thành Thủy Tam Thoa (tức nơi giao hội của 3 nguồn Thủy). Phi tinh phú viết: "Ngũ Hoàng bay tới Tam Thoa, chỉ lo lắm chuyện". Nay phía Tây-Nam của thành phố New-York chẳng những có Thủy Tam Thoa, mà còn có cả khu vực World Trade Center, thị trường chứng khoán ...v.v..., đều tụ tập ở đó, hằng ngày có tới hàng triệu lượt người qua lại khiến cho mức độ tác hại của Ngũ Hoàng càng thêm phần trầm trọng, dẫn tới vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 làm chấn động cả thế giới. Nếu như sau vụ tai biến, New-York tạm thời đình chỉ mọi hoạt động ở khu vực này thì mọi sự đã bắt đầu lắng đọng, bình yên trở lại. Nhưng vì công cuộc tìm kiếm những người bị mất tích trong 2 tòa nhà World Trade Center - cũng như việc thu dọn đống tro tàn đổ nát của 2 tòa nhà này- vẫn tiếp tục xảy ra ngày, đêm với quy mô rất lớn. Cộng thêm mọi hoạt động khác đều trở lại bình thường, khiến cho hung khí của Ngũ Hoàng vẫn tiếp tục bị xung động mạnh nên tai họa vẫn còn tiếp tục xảy đến cho thành phố New-York. Trong tháng 9 Âm-lịch (từ ngày 08 tháng Mười đến ngày 06 tháng 11 Dương-lịch, tức là từ ngày bắt đầu Tiết Hàn-lộ qua hết ngày cuối cùng của Tiết Sương-giáng mới đúng), nguyệt tinh số 9 (còn được gọi là Cửu tử) chiếu tới phía Tây-Nam. Trường hợp hai số 5- 9 gặp nhau, sách gọi đó là " Cửu - Hoàng độc dược " tức là sẽ gây ra những tai họa về ngộ độc. Bởi thế cho nên mới xảy ra vụ bọn khủng bố gởi thư có vi trùng Anthax vào những cơ quan thông tín lớn, làm cho một số người bị nhiễm độc. Nhưng vụ nhiễm vi trùng Anthax sẽ không lâu, vì bước sang tháng 10 Âm-lịch (từ ngày 07 tháng 11 Dương-lịch, tức bắt đầu Tiết Lập-đông) , nguyệt tinh số 8 tới sẽ hóa giải được sát khí của Ngũ Hoàng, nên tình hình sẽ lắng đọng dần. Tuy nhiên, cũng phải tới cuối năm Âm-lịch thì New-York mới thực sự được bình yên. Sang năm 2002 và 2003, Ngũ Hoàng sẽ di chuyển về phía Ðông và Ðông-Nam, đều không phải là những nơi có động khí nhiều của New-York nên thành phố này sẽ được 2 năm tương đối ổn định.
Nhìn chung, Vận 7 là bại vận của NewYork, vì Thủy của sông Hudson ở phía Tây là sát khí. Cũng may là ngoài xa nơi phía Ðông cũng có đại Thủy của Ðại-tây-Dương chiếu, nên kinh tế cũng chưa đến nỗi suy sụp lắm. Bước sang Vận 8 (2004 - 2023), New York sẽ trở thành một thành phố cường thịnh bậc nhất trên thế giới, vì đại long mạch từ phía Ðông-Bắc tiến xuống thần lực vô cùng mãnh liệt, lại gặp sông Hudson và cửa biển đón đầu tức là cách " Rồng gặp nước", vượng khí phát sinh như triều dâng, thác đổ, không một thành phố nào trên thế giới có thể so sánh được. Sang Vận 9 (2024 - 2043), vượng khí của long mạch bắt đầu suy yếu, lại gặp Thủy ở phía Nam là hung khí nên kinh tế xuống dần, không còn được thịnh vượng như trước. Vào những năm cuối của Vận này, khi vượng khí đã hết, còn hung khí càng lúc càng mạnh nên lại dễ phát sinh ra nhiều tai biến. Sang các Vận 1, 2, 4 đều là những bại vận của New York; các Vận 3, 5, là những Vận tương đối tốt đẹp. Riêng Vận 6 đúng ra là một Vận tốt, vì phía Ðông-Nam của New York được đại Thủy chiếu, nhưng vì bị đảo Long Island đâm tới đoạt mất vượng khí nên trong Vận này New York dễ bị hao hụt về tài chánh. Vì người viết không mấy rành rẽ về lịch sử thành phố New York, nên chỉ biên ra như vậy để những bạn đọc đã từng tìm hiểu về quá trình phát triển của thành phố này có thể dựa theo đó đi ngược lại các Vận đã qua để kiểm chứng.
http://www.vietnam-on-line.com/hph/Lamquocthanh/WashingtonDC.gif
II. Washington: nhìn trên bản đồ, chắc bạn đọc cũng thấy Thủ đô Washington có nhiều điểm tương tự như thành phố New York: cả 2 đều có Thủy chảy qua các khu vực phía Tây, phía Tây-Nam và phía Nam.Trong trường hợp của Washington, đây là Thủy của con sông Potomac bắt nguồn từ phía Tây-Bắc chảy xuống. Vì trong Vận 7, Thủy ở phía Tây là sát khí, thêm năm nay Ngũ Hoàng chiếu tới phía Tây-Nam: nơi này chẳng những cũng có Thủy, lại còn có tòa nhà Ngũ-giác-Ðài và phi trường Reagan National Airport ở đó hoạt động ngày đêm khiến hung khí bị xung động mạnh, nên trong cùng ngày, cùng giờ xảy ra cùng 1 tai nạn tại cùng một khu vực như thành phố New York. May mà mức độ hoạt động ở phía Tây-Nam của Washington vẫn yếu hơn ở New York nhiều, nên tai họa xảy ra cũng không đến nỗi trầm trọng như ở New York. Sau ngày 11 tháng 9, quốc hội Mỹ dự định đóng cửa phi trường Reagan National Airport, vì sợ bọn khủng bố sẽ sử dụng phi trường này để tiếp tục công phá những trụ sở chính phủ ngay trong thủ đô. Nếu xét về mặt Phong thủy thì đó là một quyết định đúng, vì khi Ngũ Hoàng bớt bị xung động thì sẽ tránh được những tai nạn khác. Nhưng sau đó, Tổng-thống Bush lại quyết định cho phi trường được phép tái hoạt động, khiến cho khu vực có Ngũ Hoàng lại tiếp tục bị xung động nên tai họa tiếp tục diễn ra. Cũng như New York, vụ nhiễm vi trùng Anthrax ở Washington sẽ chỉ bắt đầu lắng đọng vào tháng 10 Âm-lịch, nhưng phải tới hết năm Tân TỴ thì mới thực sự được yên ổn.
Washington được 2 con sông Potomac và Anacostia như 2 cánh tay ôm gọn vào lòng nên vượng khí ở ngay bên mình, là nơi thường sản sinh ra nhiều nhân tài kiệt xuất. Ngay cả trong Vận 7 cũng có được 2 vị Tổng -thống có tài là Ronald Reagan và Bill Clinton, nhưng cả 2 vị Tổng-thống trên đều bị những vụ tai tiếng lớn suýt nữa làm tan vỡ sự ngiệp. Ðó là vì Thủy của dòng sông Potomac ở phía Tây trong Vận 7 là sát khí, nên trong sự tốt đẹp đã ẩn sẵn mầm tai họa, chưa kể là trong suốt mười mấy năm gần đây lại còn bị chiến tranh, giặc giã liên miên. Bước sang Vận 8, Washington sẽ có được một thời gian thái bình, thịnh trị. Qua tới Vận 9, thủ đô Washington sẽ gặp phải rất nhiều biến động lớn, vì Thủy ở phía Nam trong Vận 9 chẳng những là sát khí, ở đây còn là Thủy Tam Thoa (chỗ giao hội của 3 nguồn nước). Không những thế sau khi giao hội, chúng lại chảy thẳng về phía Nam, cuốn hết vượng khí của thủ đô đi mất; nên trong Vận này, tình hình nước Mỹ chẳng những đã rất hỗn loạn, đen tối , mà lại không có được một vị Tổng -thống nào có đủ khả năng để đối phó với tình thế. Phải bước sang Vận 1, Washington mới có được vĩ nhân xuất hiện đem lại cảnh thái bình cho đất nước. Riêng Vận 2 thì tương đối cũng gần giống như Vận 7; các Vận 3, 4 là thời kỳ vươn lên của nước Mỹ; đến Vận 5 là giai đoạn cực thịnh. Trong các Vận này, Hoa-Kỳ sẽ có rất nhiều nhân tài xuất hiện , đặc biệt là trong Vận 5, các vị Tổng -thống trong Vận này đều sẽ được nổi tiếng ghi danh vào lịch sử. Nhưng khi bước sang Vận 6, Thủy trên thượng nguồn sông Potomac ở phía Tây-Bắc sẽ biến thành sát khí, khiến cho thủ đô Washington liên tiếp bị những biến động không ngừng.
http://www.vietnam-on-line.com/hph/Lamquocthanh/chicago.gif
III. Chicago: là thành phố nằm bên cạnh hồ Michigan, nên 3 phía Ðông-Bắc, Ðông và Ðông-Nam đều có Thủy, còn những phía khác địa hình tương đối bằng phẳng. Vì trong Vận 7, Thủy ở phía Ðông là Chính Thủy, nên Chicago được vượng khí từ hồ Michigan thổi tới; không những thế, vì phía Tây thành phố lại bằng phẳng nên đón nhận được cả vượng khí của Chính Thần đưa tới. Bởi thế nên trong suốt mười mấy năm nay, Chicago ngày càng trở nên phát đạt và thịnh vượng. Khi vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 xảy ra, Chicago có tòa nhà Sear Tower còn cao, lớn hơn cả 2 tòa nhà World Trade Center ở New York, nhưng bọn khủng bố đã không ngó ngàng tới. Rồi sau đó khi vụ gởi thư có vi trùng Anthrax xảy ra, Chicago vẫn bình yên vô sự. Sở dĩ như vậy là vì vượng khí của hồ Michigan đã che chở cho Chicago thoát khỏi nhiều tai nạn. Mặt khác, vì năm nay Ngũ Hoàng chiếu tới phía Tây-Nam, khu vực này tương đối vắng vẻ, chỉ có một số đườngxá, xa lộ nên không đủ sức làm phương hại tới thành phố. Sang các năm 2002 và 2003, Ngũ Hoàng sẽ chiếu tới phía Ðông và Ðông-Nam. Những khu vực này đều có Thủy, nhưng vì là vượng Thủy nên Ngũ Hoàng không thể tác oai, tác quái được; nếu có thì cũng chỉ làm cho nhiều người bị cảm cúm mà thôi.
Hiện tại, điều làm cho mọi người ở Chicago lo lắng còn hơn cả chiến tranh và khủng bố có lẽ là tình trạng suy thoái kinh tế và nạn thất nghiệp. Ðể tránh khỏi tình trạng đó, quý bạn cần coi lại hướng nhà và chú ý tới việc sử dụng lối ra, vào cho đúng. Vì đa số nhà cửa trong thành phố Chicago đều được xây dựng theo đúng 4 hướng chính là Ðông, Tây, Nam, Bắc, nên tương đối cũng đơn giản như sau:
a/ Những nhà có mặt tiền nhìn về hướng Ðông : phía trước nhà bạn đang đón nhận được vượng khí, nên bạn cần sử dụng cửa trước để ra, vào nhiều. Trong năm nay có thể bạn sẽ gặp nhiều chuyện xung đột, còn năm tới thì dễ bị bệnh hoạn , nhưng đi cửa trước sẽ giúp cho công việc của bạn được vững vàng hơn. Ðể phòng chống bệnh hoạn trong năm tới, quý bạn nên treo 1, 2 cái phong-linh( chuông gió) ở cửa trước. Cò những bạn có garage ở phía sau hay thường dùng cửa sau thì trong năm nay đa số đều có thêm lợi tức, nhưng công việc đã bắt đầu lung lay. Nếu bạn sử dụng ngõ phía Tây-Nam để ra, vào thì công việc của bạn cũng chưa đến nỗi, còn sang năm thì bạn nên sử dụng cửa trước, nếu không bạn sẽ khó tránh được nạn thất nghiệp hoặc hao tán tiền bạc rất nhiều. Còn những bạn sử dụng những ngõ khác để ra, vào garage thì hầu hết sẽ bị thất nghiệp trong năm nay, còn sang năm thì càng tệ hại hơn.
b/ Những nhà có mặt tiền nhìn về hướng Tây : nếu bạn thường sử dụng cửa trước để ra, vào thì năm nay bạn đã bị hao hụt nhiều món tiền lớn, nếu không thì nạn thất nghiệp đang là mối lo trong lòng bạn, nhất là trong các tháng 1, 2, 4, 8, 10 và 11 Âm-lịch. Sang năm tới thì vấn đề tài chánh của bạn cũng chưa có gì sáng sủa lắm, lại còn dễ gặp chuyện cãi vã, xung đột hoặc bệnh cao máu. Nhưng nếu ngõ vào nhà bạn nằm ở phía Tây-Bắc , mà bạn lại thường xuyên lái xe qua, lại đó hằng ngày để ra, vào nhà thì tình hình kinh tế của bạn sẽ vững vàng, không có gì phải lo lắng. Ngược lại, nếu ngõ vào nhà bạn thuộc khu vực phía Tây-Nam thì gia đình bạn thường bị trộm cắp lặt vặt quấy rối. Còn những bạn có garage hoặc thường xuyên sử dụng cửa sau thì công việc của bạn đã bất ổn từ lâu (nếu bạn đã ở nhà này trên 3 năm), lại còn luôn luôn bị bệnh tật quấy nhiễu; sang năm tới bạn càng gặp nhiều bệnh tật ngặt nghèo hơn. Ðể bảo vệ sức khỏe, bạn nên mua 1, 2 cái Phong linh về treo ở phía cửa sau.
c/ Những nhà có mặt tiền nhìn về hướng Nam : nếu bạn thường sử dụng cửa trước để ra, vào thì nền kinh tế của bạn đã gặp khó khăn từ lâu, nhất là trong năm ngoái và năm nay. Sang năm sau thì bạn sẽ tương đối đỡ hơn một chút, nhưng vì phía trước nhà bạn đang đón nhận suy khí nên bạn sẽ không thể nào khá lên nổi ( ngoại trừ những nhà có ngõ ra, vào hoặc cửa nằm ở khu vực phía Tây-Nam thì từ tiền bạc đến công ăn việc làm đều ổn định). Còn những bạn có garage hoặc thường xuyên sử dụng cửa sau thì gia đình bạn đã làm ăn khá trong nhiều năm qua, nhưng năm nay thì đã có mòi khó khăn, và sang năm thì còn tệ hơn nhiều. Tuy nhiên, đa số bạn chỉ bị giảm phần thu nhập, nếu có bạn nào bị thất nghiệp thì cũng chỉ bị trong một thời gian ngắn. Sang năm 2002, nếu bạn đóng cửa sau, đi cửa trước thì sẽ có lợi hơn. Chờ tới năm 2003 bạn mới nên sử dụng lại cửa sau.
d/ Những nhà co ặt tiền nhìn về hướng Bắc : Nếu bạn thường dùng cửa trước để ra, vào thì nền kinh tế của bạn đã vững vàng từ lâu, chỉ có trong năm nay và năm tới là bạn sẽ gặp nhiều khó khăn, thu nhập giảm đi khá nhiều. Nếu bạn có garage hoặc thường xuyên sử dụng cửa sau, thì thì liên tiếp từ năm ngoái đến nay nay rồi sang năm tới công việc làm ăn của bạn đều vững vàng, kinh tế càng ngày càng khá giả. Do đó, những bạn có nhà hướng này nên đóng cửa trước, đi cửa sau trong năm nay và năm tới.
Trên đây, người viết chỉ đề cập đến nhà ở 4 hướng chính có cửa ra, vào ở phía trước hoặc phía sau mà thôi; còn những trường hợp nhà có cửa bên hông, có cây lớn hoặc cột đèn trước nhà, nhà lệch góc độ, nhà ở 4 hướng phụ..v.v... thì rất nhiều, không thể liệt kê hết trong phạm vi hạn hẹp của bài báo này.
Trở lại vận khí của thành phố Chicago thì thành phố này còn thịnh vượng cho đến hết Vận 7, tức là còn được hơn 2 năm nữa. Sang năm 2004 tức là đã bước qua Vận 8, lúc đo,hủy của hồ Michigan sẽ biến thành sát khí, gây ra rất nhiều tai họa cho thành phố, nhất là trộm cắp và hỏa hoạn. Muốn tránh được những rủi ro trên, một là bạn nên tu sửa lại nhà cửa để thay đổi vận khí của nó; hai là dọn nhà đi nơi khác. Nhưng nói tới tu sửa không phải là chỉ làm một cách hời hợt, mà ít ra cũng phải thay đổi cửa ra vào, đồng thời sơn phết lại toàn bộ căn nhà, như thế mới được coi là đổi mới. Khi đó, các nhà hướng Ðông hoặc hướng Tây đều nên sử dụng cửa nằm ở khu vực phíaTây; còn các nhà hướng Bắc hoặc hướng Nam đều nên sử dụng cửa nằm ở khu vực phía Nam để tránh tai họa và bảo đảm cho đời sống kinh tế được ổn định. Còn nếu bạn muốn dời nhà trong giai đoạn này thì phải để ý tùy theo năm để né tránh Ngũ Hoàng (chẳng những khu vực nó chiếu tới, mà cả khu vực đối diện nữa), đồng thời không được di chuyển về hướng đối nghịch với Thái Tuế. Nói tới Thái Tuế thực ra là nói tới vị trí của Mộc tinh so với trái đất , cụ thể là năm Tý thì Thái Tuế ở phía Bắc, nên nếu bạn dời nhà về phía Nam tức là khu vực đối diện thì dễ bị thất nghiệp hoặc hạnh phúc gia đình dễ bị đổ vỡ. Rồi tới các năm Sửu, Dần thì Thái Tuế ở phía Ðông-Bắc; năm Mão ở phía Ðông; các năm Thìn, Tỵ ở phía Ðông-Nam; năm Ngọ phía Nam; năm Mùi, Thân ở phía Tây-Nam; năm Dậu phía Tây; năm năm Tuất, Hợi phía Tây-Bắc. Ðó là vị trí của Thái Tuế theo chu kỳ của 12 năm Âm-lịch. Còn chu kỳ di chuyển của Ngũ Hoàng trong những năm gần đây là: năm 1999 Ngũ Hoàng ở phía Nam; năm 2000 ở phía Bắc; 2001 ở phía Tây-Nam; năm 2002 ở phía Ðông; năm 2003 phía Ðông-Nam; năm 2004 Ngũ Hoàng nhập trung cung, nên năm đó bạn có thể dời nhà tới bất cứ phương nào, ngoại trừ phương đối nghịch với Thái Tuế ; năm 2005 Ngũ Hoàng ở phía Tây-Bắc; năm 2006 phía Tây; năm 2007 phía Ðông-Bắc; năm 2008 phiá Nam tức là bắt đầu lập lại chu kỳ 9 năm của nó. Khi đã biết rõ được vị trí của Ngũ Hoàng và Thái Tuế theo từng năm rồi thì bạn nên dựa theo đó mà chọn khu vực thích hợp để dời nhà cho đúng, có như thế mới tránh khỏi bị hao người, tốn của.
Phong-thủy là một bộ môn khoa học từ ngàn xưa, nó được tạo dựng và hình thành bởi những bậc triết gia, thánh hiền nổi tiếng của Trung Hoa như Quách -Phác, Hoàng-thạch Công, Trương-Lương, Ðổng-trọng-Thư, Dương-quân-Tùng, Trần-Ðoàn...v.v... trải qua mấy ngàn năm suy nghiệm và thực dụng đã trở thành 1 môn học thuật vô cùng tinh vi, ảo diệu, khả dĩ có thể thấu suốt được cả huyền cơ biến hóa của vũ trụ. Người viết bài này chỉ là kẻ đang trên đường tìm kiếm những điều tinh vi, ảo diệu ấy, nên đúng ra chưa phải là đã hội đủ trình độ để viết bài diễn giải về bộ môn học thuật cao siêu này. Chỉ vì hiện nay, giữa lúc xã hội đang xảy ra nhiều cơn biến động, người viết hy vọng những điều hiểu biết nông cạn của mình về bộ môn Phong-thủy sẽ giúp quý bạn có được những phương cách " huyền bí " để tìm kiếm và tạo dựng cho mình một môi trường an toàn và thích hợp, ngõ hầu vượt qua được mọi cơn biến động của xã hội- trong hiện tại cũng như trong tương lai sắp tới.

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Ngô Quyền

Ngô Quyền (chữ Hán: 吳權; 898 – 944) là một vị tướng và sau này là vua Việt Nam, là người sáng lập ra nhà Ngô. Năm 938 ông cầm quân đánh tan quân xâm lược Nam Hán tại sông Bạch Đằng, kết thúc 1.000 năm Bắc thuộc của Việt Nam.

Ngô Quyền sinh năm 898, mất năm 944 quê ở Đường Lâm, (Sơn Tây, Hà Nội ngày nay). Ông là con trai của quan mục Đường Lâm là Ngô Mân, sau trở thành bộ tướng và con rể của Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân Dương Đình Nghệ (931 - 937), được giao cai quản Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).

Từ năm 907 ở Trung Hoa, nhà Đường mất, lần lượt nổi lên là các nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quí hay là Ngũ đại.

Năm 911, Lưu Cung làm Nam Bình Vương do nhà Hậu Lương phong cho, kiêm chức Tiết độ sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải, có ý để lấy lại Giao Châu. Được ít lâu nhân có việc bất bình với nhà Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế, quốc hiệu là Đại Việt. Đến năm Đinh Sửu (917) cải quốc hiệu là Nam Hán.

Năm Quí Mùi (923)[1] Lưu Cung sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ (khi đó chấp nhận làm Tiết độ sứ của nhà Hậu Lương tại Giao Châu mà không thần phục nhà Nam Hán), rồi sai Lý Tiến sang làm thứ sử cùng với Lý Khắc Chính giữ Giao Châu.

Năm Tân Mão (931) Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày trước (cha của Khúc Thừa Mỹ) nổi lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý Khắc Chính và Lý Tiến đi, rồi tự xưng làm Tiết độ sứ. Được gần 7 năm, Dương Đình Nghệ bị nha tướng là Kiều Công Tiễn giết hại để cướp quyền.

Trong thời gian cai quản Ái Châu, ông đã đem lại yên vui cho đất Ái Châu, tỏ rõ là người có tài đức.

Năm 938, ông tập hợp lực lượng hào kiệt trong nước tiến ra bắc, hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Sau đó, ông chỉ huy trận Bạch Đằng nổi tiếng, đánh bại quân Nam Hán do Hoằng Thao (có sách viết là Hoằng Tháo) chỉ huy, giết chết Hoằng Thao.

Mùa xuân năm 939, ông xưng là Ngô Vương (tức là Tiền Ngô Vương), đóng đô ở Cổ Loa (thuộc thành phố Hà Nội ngày nay). Tuy chỉ xưng Vương nhưng ông có thể coi là người có công lớn trong việc giành được độc lập cho đất nước sau nghìn năm Bắc thuộc.

Năm 944, ông qua đời, thọ 47 tuổi. Sử sách gọi ông là Tiền Ngô Vương. Sách Thiền Uyển Tập Anh gọi ông là Ngô Thuận Đế, có lẽ chỉ là cách tôn lên vì đương thời ông chưa từng xưng đế.

Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại. Ngô Quyền kéo quân ra thành Đại La nhằm tiêu diệt Công Tiễn. Do lo sợ bị tiêu diệt, Kiều Công Tiễn đã cầu cứu nước Nam Hán. Vua Nam Hán lúc bấy giờ là Lưu Cung cho con trai là Vạn Vương Lưu Hoằng Tháo kéo quân theo đường thủy sang giúp (thực chất là nhân cơ hội chiếm lấy Giao Châu một lần nữa). Do đó, sau khi giết được Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền chuẩn bị lực lượng để đối phó với sự xâm lăng của quân Nam Hán bằng cách bố trí một trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng, con đường mà Lưu Hoằng Tháo dùng để tiến vào Giao Châu.

Về thời gian của trận Bạch Đằng, sử sách đều chép không thống nhất: Đại Việt sử kí toàn thư chép là tháng 10 (âm lịch), Đại Việt sử lược chép là tháng 12 (âm lịch), còn Khâm định Việt sử Thông giám cương mục lại chép là tháng 9 (âm lịch).

Đại Việt sử kí toàn thư còn ghi lại được lời nói của Ngô Quyền về kế hoạch kháng chiến bằng cách đóng cọc dưới lòng sông :

Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo tướng tá rằng :

_Hoằng Tháo là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại được tin Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi; quân ta sức còn mạnh, địch với quân mỏi mệt tất phá được. Song họ có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của họ nhân khi nước triều lên, tiền vào bên trọng hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hơn kế ấy cả.''

Vào một ngày cuối đông năm 938, trên sông Bạch Đằng, cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán đã diễn ra ác liệt và kết thúc rất nhanh gọn. Đoàn binh thuyền cồng kềnh của Lưu Hoằng Tháo vừa tiến vào cửa sông Bạch Đằng đã bị một nhóm nhỏ thuyền quân Ngô ra nhử, vừa đánh vừa rút. Quân Hán hăng hái đuổi theo, vượt qua hàng cọc ngầm mà không hay biết. Đợi đến khi thủy triều xuống, Ngô Quyền mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh, quân sĩ đều "liều chết mà đánh" (Đại Việt sử kí toàn thư) rất dữ dội. Quân Nam Hán không kịp chỉnh đốn đội hình, lại gặp lúc nước triều rút mạnh, thuyền lớn bị va vào cọc, vỡ tan tành. Quân Hán chết đuối rất nhiều, số còn lại hầu hết đều bị quân Ngô đánh bắt. Hoằng Tháo cũng bị bắt và giết. Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Ông ta kinh hoàng khủng khiếp, đành "thương khóc thu nhặt quân còn lại mà rút lui" (Đại Việt sử ký toàn thư). Về nước, vua Hán cho rằng tên mình là Cung số xấu, đổi lại thành Yểm. Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược Giao Châu.
[sửa] Ý nghĩa lịch sử

Chiến thắng Bạch Đằng có thể coi là trận chung kết toàn thắng của dân tộc Việt trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Phải đặt trong bối cảnh Bắc thuộc kéo dài sau 1117 năm (179 TCN - 938) mới thấy hết ý nghĩa lịch sử vĩ đại của nó.

Hơn thế nữa, trong hơn 1000 năm Bắc thuộc đó, kẻ thù của dân tộc Việt là một đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đang lúc phát triển cao độ, nhất là dưới thời Hán, Đường. Tiếp tục công cuộc bành trướng của Tần Thủy Hoàng, nhà Hán đã chinh phục Bắc Triều Tiên chiếm đất đai các bộ lạc dụ mục phía Bắc, mở rộng lãnh thổ về phía Trung Á, xâm lược các nước Hạ Lang, Điền ở Tây Nam. Đầu thế kỷ thứ 7, nhà Tùy bành trướng mạnh về phía Đông, chinh phục Triều Tiên, Lưu Cầu, Đài Loan, Giao Châu, Lâm Ấp, Tây Đồ Quốc..., nhà Đường mở rộng bành trướng về mọi phía, lập thành một đế chế bao la như Đường Thái Tông đã từng tuyên bố: "Ta đã chinh phục được hơn 200 vương quốc, dẹp yên bốn bề, bọn Di Man ở cõi xa cũng lần lượt về quy phục" (theo Đường thư).

Từ đầu Công nguyên, dân số của đế chế Hán đã lên đến 57 triệu người. Thời gian đó, dân số của Việt Nam chỉ độ một triệu. Sau khi chiếm được Việt Nam, mưu đồ của nhà Hán không phải chỉ dừng lại ở chỗ thủ tiêu chủ quyền quốc gia, bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, mà còn tiến tới đồng hóa vĩnh viễn dân tộc Việt, sát nhập đất đai vào Trung Quốc. Chính sách đồng hóa là một đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, đã được thực hiện từ thời Hán và đẩy mạnh tới nhà Đường. Trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam, đây là một trong những thời kỳ vận mạng dân tộc trải qua một thử thách cực kỳ hiểm nghèo.

Ngô Quyền - người anh hùng của chiến thắng Bạch Đằng năm 938 - xứng đáng với danh hiệu là "vị tổ trung hưng" của dân tộc như Phan Bội Châu lần đầu tiên đã nêu lên trong Việt Nam quốc sử khảo.

Sau chiến thắng Bạch Đằng, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn. Đó là kỷ nguyên của văn minh Đại Việt, của văn hóa Thăng Long, kỷ nguyên phá Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, một kỷ nguyên rực rỡ của các nhà Lý, Trần, Lê. Nhà sử học Ngô Thì Sĩ đã đánh giá: "Trận thắng trên sông Bạch Đằng là cơ sở cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công đời Đinh, Lê, Lý, Trần sau này còn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Trận Bạch Đằng vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lẫy lừng ở một thời bấy giờ mà thôi đâu" (Việt sử tiêu án).

Ngoài Dương hậu, giai thoại dân gian ghi nhận Tiền Ngô vương còn có một người vợ họ Đỗ, ở Dục Tú, Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Bà họ Đỗ không có con cái.

Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, con cả Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập, trước khi sinh ra Ngô Xương Xí đã sinh ra Ngô Xương Tỷ (Khuông Việt đại sư) năm 933. Đây là người cháu lớn nhất của Ngô Vương. Từ khoảng cách năm sinh giữa Ngô Quyền (898) và cháu nội Xương Tỷ cùng việc Xương Ngập có dự trận Bạch Đằng năm 938, có thể suy đoán Xương Ngập sinh khoảng năm 915, trước khi Ngô Quyền gặp Dương hậu - con Dương Đình Nghệ. Do đó Xương Ngập là con một người vợ cả của Ngô Quyền, có thể đã mất sớm và không được sử sách nhắc tới.

Sử sách ghi Tiền Ngô vương còn có 2 người con trai nữa là Ngô Nam Hưng và Ngô Càn Hưng. Phả hệ họ Ngô Việt Nam chỉ nhắc tới con cháu của Xương Ngập và Xương Văn mà không nhắc tới con cháu của Nam Hưng và Càn Hưng. Những căn cứ trên cho thấy: Tiền Ngô Vương có 3 người vợ và 4 người con trai. Xương Ngập là con một người vợ đầu (chưa rõ tên tuổi) mất sớm; Xương Văn, Nam Hưng, Càn Hưng đều là con Dương hậu; bà Đỗ thị không có con.

Các nhà sử học Việt Nam thời phong kiến như Lê Văn Hưu (tác giả cuốn Đại Việt sử ký), Phan Phu Tiên (tác giả cuốn Đại Việt sử ký tục biên), Ngô Sĩ Liên đánh giá rất cao công trạng của Ngô Quyền. Trong Đại Việt sử ký toàn thư bản Ngoại kỷ, quyển 5 của Ngô Sĩ Liên đã chép lại lời bình của Lê Văn Hưu về ông như sau:

Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân[3] của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được.

Loạn "Ngũ Đại Thập Quốc" ở phương bắc kéo dài hơn nửa thế kỷ là cơ hội lớn cho Việt Nam thoát khỏi tay phong kiến Trung Hoa. Trung Quốc chia năm xẻ bảy, không đủ sức mạnh duy trì chiến tranh thường trực, tổng lực với phương nam. Trước Ngô Quyền, dù các chính quyền họ Khúc, họ Dương đã xây dựng nền tự chủ nhưng trên danh nghĩa, chức Tiết độ sứ vẫn bao hàm nghĩa là một phiên trấn của "thiên triều" phương bắc, dù không thuộc về Nam Hán liền kề nhưng vẫn "nằm trong tay" của "Ngũ Quý" ở Trung nguyên (nhà Hậu Lương 907-923, nhà Hậu Đường 923-936, nhà Hậu Tấn từ 936).

Thất bại lần thứ hai ở Việt Nam khiến Nam Hán phải bỏ hẳn ý định xâm chiếm, khẳng định sức mạnh của "Tĩnh Hải quân" không sút kém so với các chư hầu trong "Thập quốc" lúc đó. Sau trận Bạch Đằng, Ngô Quyền tự mình xưng vương hiệu, thành lập hẳn một triều đại, có triều đình, quan chức, chính thức xác lập nền độc lập của Việt Nam. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam mà sau này các nhà sử học vẫn gọi ông là "ông tổ phục hưng" cho nền độc lập tự chủ.

Điều kiện khách quan chưa cho phép ông xưng đế và đặt quốc hiệu như hơn 20 năm sau Đinh Tiên Hoàng làm. Chỉ xưng vương cũng là một cách làm khôn khéo, "biết mình biết người" của Ngô Quyền; giống như trước đây Khúc Hạo đã không xưng vương để giữ yên bờ cõi vừa vuột khỏi tay người Bắc, Ngô Quyền không xưng đế khi chưa đủ "thế" và "lực". Kinh nghiệm của những người đi trước và những tấm gương tày liếp của các triều đại phương Bắc thay đổi xoành xoạch lúc đó, sớm dựng chiều đổ khiến ông có sự thận trọng cần thiết. Trong hơn 10 nhà cai trị Việt Nam thế kỷ 10, ông cùng Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành là những người được nhắc tới nhiều nhất.